A/ TRUYỀN THỐNG
Trích: …Lục Tự Khí Công hay còn gọi là Lục Tự Quyết là phương pháp dưỡng sinh dùng sáu âm (lục tự) thở ra khác nhau, mỗi âm cộng hưởng với một Tạng- Phủ cụ thể, để đẩy tà khí ra ngoài và điều hòa nội tạng.
Thời Nam triều (Lương), Đào Hoằng Cảnh, là đạo sĩ, y gia, nhà bác học, biên soạn “Dưỡng Tính Diên Mệnh Lục”, Sách ghi chép về dưỡng tính và kéo dài sinh mệnh (phép trường thọ), trong đó có đoạn mô tả sáu âm thở để điều trị nội tạng chính là Lục Tự Quyết. Đào Hoằng Cảnh ghi một câu để nói về Lục Tự Quyết như sau: “Nạp khí hữu nhất, thổ khí hữu lục. Nạp khí nhất giả, vị hấp dã, thổ khí lục giả, vị suy, hô, hi, ha, hư, hí, giai xuất khí dã.”
Dịch nghĩa: “Phép nạp khí có một, phép thổ khí có sáu. Một phép nạp khí tức là hít vào. Sáu phép thổ khí tức là các âm suy, hô, hi, ha, hư, hí, đều là những cách thở khí ra”
Đây là văn bản sớm nhất hệ thống hóa Lục Tự Quyết, trước đó có thể Đào Hoàng Cảnh cũng có thể học từ Tiền nhân theo dạng “mật pháp” rồi từ đó Ông tổng hợp kiến thức từ phép Thổ Nạp mà sáng tạo ra Lục Tự Quyết. Như vậy cho đến nay Lục Tự Quyết đã tồn tài và được phổ biến hơn 1.500 năm.
Năm 2003, Tổng cục Thể thao Trung Quốc biên soạn lại và đưa Lục Tự Quyết vào hệ thống “Kiện Thân Khí Công” để phổ biến toàn quốc…(Hết trích)
Từ đó, kể từ thời Đào Hoàng Cảnh, Lục Tự Quyết được rất nhiều Danh sư trong giới Đạo gia, Y gia, Võ gia chỉnh sửa, bổ sung và phát triển. Đặc biệt với các Y gia, các Danh sư đều coi Lục tự Khí công là môn Dưỡng sinh tối thượng trong việc phòng ngừa bệnh tật, điều chỉnh thân tâm cho thuật trường thọ. Trong số đó phải kể đến các bậc Danh sư, Đạo sư sau:
1- Trí Khải Đại Sư (Tổ sư khai sơn của Thiên Thai Tông- Phật gia)
Vào thời nhà Tuỳ có Trí Khải Đại Sư, được hậu thế tôn xưng là “Đông Thổ Thích Ca”, là Tổ sư thiền sáng lập nên Thiên Thai tông của Phật giáo Hán truyền. Trong tác phẩm “Tu Tập Chỉ Quán Tọa Thiền Pháp Yếu” của Trí Khải Đại Sư, đây là bộ sách có nội dung là tổng quát về Thiên Thai Chỉ Quán và là then chốt của đạo và được xem là bộ điển tịch đầu tiên trên thế giới giới thiệu có hệ thống phương pháp tĩnh tọa và trí tuệ chỉ quán, giúp người mới bắt đầu bước vào thiền định và khai mở trí tuệ. Trong sách này có chương thứ 9 nói về Lục Tự Quyết, thảo luận ba phương pháp: “Chỉ tâm đan điền trị bệnh”, “Lục Khí trị bệnh”, và “Thập Nhị Tức trị bệnh”
Đây đều là những pháp tu liên quan trực tiếp đến Trì Tức Niệm (quán sát hơi thở). Trí Khải Đại Sư không chỉ tiếp nhận sáu âm của Đào Hoằng Cảnh mà còn lập ca kệ phối hợp sáu âm với tạng- phủ và ngũ quan tạo nên pháp tu Thiền đặc biệt của Thiên Thai Tông.
2- Tôn Tư Mạc (Đại danh Y của Trung Quốc)
Tôn Tư Mạc là Danh y, nhà dược học gia nổi tiếng thời Đường. Ông được hậu thế tôn xưng là “Dược Vương”, nhiều thế hệ người Trung Hoa còn tôn ông là “Y Thần”. Ông tinh thông y học, giỏi dưỡng sinh, và sống đến 101 tuổi. Ông thường hay kết hợp tư tưởng dưỡng sinh của Nho gia, Đạo gia, và Phật gia Ấn Độ với lý thuyết dưỡng sinh y học Đông y, đề xuất nhiều phương pháp dưỡng sinh thiết thực mà đến nay vẫn còn giá trị rất lớn trong Nghệ thuật Dưỡng sinh Á đông. Tôn Tư Mạc theo thứ tự Ngũ hành tương sinh, kết hợp bốn mùa, biên soạn “Vệ Sinh Ca” – đặt nền móng cho “Lục Tự Quyết Trị Liệu” sau này.
3- Hồ Âm –(Nữ Đạo sĩ)
Hồ Âm là nữ đạo sĩ thời Đường, đạo hiệu Thái Bạch Sơn Kiến Tố Tử. Tác phẩm của bà là “Hoàng Đình Nội Cảnh Ngũ Tạng Lục Phủ Bổ Tả Đồ” (Sơ đồ pháp yếu bổ- tả ngũ tạng lục phủ theo phép Hoàng Đình nội cảnh
Trong sách Hồ Âm thay đổi toàn bộ các phối hợp sáu âm với ngũ tạng, cụ thể:
– Hi ứng với Phế
– Ha ứng với Tâm
– Hô ứng với Tỳ
– Xuy ứng với Thận
– Hư ứng với Can
Hồ Âm không thay đổi tùy tiện, bà dựa trên lý thuyết “Ngũ âm y học”. Nói cách khác, Hồ Âm đã truy ngược về vật lý âm thanh và vị trí phát âm trong miện, loại âm thanh nào, cách phát âm ra sao, cộng hưởng với tạng phủ nào theo Ngũ hành. Bảng “lục tự quyết” của Hồ Âm được nhiều người chấp nhận và sử dụng rất nhiều cho đến thời nay.
4- Lãnh Khiêm (Đạo sĩ, Nhạc sư)
Lãnh Khiêm, người thời Hồng Vũ đầu triều Minh . Ông là một đạo sĩ tinh thông âm luật, từng giữ chức Thái Thường Hiệp Luật Lang (Quan phụ trách âm nhạc triều đình), đồng thời còn là họa gia và thư pháp gia. Do tinh thông đạo dưỡng sinh và thực hành có phương pháp, Lãnh Khiêm tương truyền sống thọ đến hơn 150 tuổi, Ông là một trong những điển hình trường thọ hiếm có của y gia dưỡng sinh cổ đại Trung Quốc. Ông có tác phẩm: “Tu Linh Yếu Chỉ”
Trong đó có Chương 3 gọi là „Thiên Lục Tự Quyết Trường Thọ Chi Bảo“. Và đây cũng là nền tảng của Lục Tự Y Án sau này của giới Y gia và Dưỡng sinh Đông y cổ truyền.
5- Lê Hữu Trác (Danh Y Nam Việt).
Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, người huyện Hương Sơn, Việt Nam. Ông là một đại Danh Y không những của người Việt Nam mà còn có tầm ảnh hưởng rất lớn ở Trung Thổ. Ông có trước tác gọi là „Hải Thượng Lãn Ông Y Tâm Lĩnh“, một trong những Y thư kỳ kinh nổi tiếng trong giới Đông Y. Trong bộ „Hải thượng Lãn ông Y tâm lĩnh“, trong thiên thượng về „Vệ sinh yếu quyết“ ông đã đề cập rất nhiều đến thuật Dưỡng sinh thuận theo tự nhiên và tác dụng đặc biệt của loại „thiền thổi“ của Lục Tự Quyết.
6- Thích Mật Hiển (Phật gia)
Hòa thượng Thích Mật Hiển là một cao tăng tiêu biểu của Phật giáo Việt Nam ở thế kỷ 20. Ông được xem là một bậc Đạo sư của Đông Mật. Ông cũng là một trong những người thừa kế „Thanh Long Diệu Dược Kỳ Thư“ của Thái Y Viện (Trong đó có cuốn hạ gọi là „Lục Tự Y Án Kỳ Thư“). Trong thời kỳ HT Thích Mật Hiển làm trụ trì chùa Trúc Lâm (Huế). Ông là người hoằng pháp phương pháp tu tập kết hợp „Mật- Thiền- Tịnh Đồng Tu“. Ông là một cao tăng khá ẩn dật, tương tuyền ông có thể hét Lục tự cho sập cả vách núi, và có khả năng dùng tiếng gầm gừ trong cổ họng để trị bệnh.
7- Pháp Đăng Đại Sư (Võ gia- Phật gia)
Đại sư Pháp Đăng hay còn gọi là Pháp Hư Thiền Sư, ông là một trong những Đại đệ tử của Hư Vân Đại Sư (Tổ Sư Thiền Bắc Tông). Ông là người nổi tiếng với môn „Nhất Chỉ Thiền“ và „Sư Tử Hống“… Tương truyền chùa Thiếu Lâm Tự (Trung Quốc) thời cận đại nổi tiếng về môn võ „Nhất chỉ thiền“ và „Sư tử hống“ là do chính Ông đã làm Giáo thọ truyền lại cho các trưởng lão Thiếu Lâm. Ông là người kết hợp „Lục Tự Quyết“ với „Sư Tử Hống“ tạo nên một pho công phu gọi là „Lục Tự Ấn Quyết“, pho công phu này được các đời sau của „Hoa Nghiêm Tông“ ứng dụng làm môn công phu „dưỡng sinh“ trong pháp „Thiền- Tịnh Song Tu“. Sau này các môn đồ của Pháp Hư Đại Sư phát triển thành một phương pháp chẩn trị trong Y thuật gọi là môn „Lục Tự Miên Miên“
(Còn nữa).
LƯU Ý:
Hôm nay có buổi học „Lục Tự Y Án Kỳ Phương“ vào lúc 20h45 (giờ Hà Nội). Link học đã gửi trong các Grup Lục Tự.
01/08/26
Thuận Nghĩa























