(Xem trước phần 1)

B- NHẠC PHỔ “CÁT ĐÁ TRÙNG LAI”

1/ Ý Tưởng:

Lục Tự Khí Công vốn dĩ là một môn công phu thuộc vào “Tĩnh Công” và lúc phát âm thì hình thái của âm sắc chỉ gầm gừ ở cổ họng, nhưng âm lực và chấn động âm thanh thì lại được rung chấn và phát ra từ các Đan điền, đặc biệt là Hạ đan điền. Y gia thì gọi đó là “Nội Âm”, Võ gia thì gọi đó là “Truyền âm nhập mật”, Đạo gia thì gọi là “Thai âm Nội đan”, còn dân gian thì gọi là “giọng bụng”.

Đến đời của Thiên Thai tông chủ Trí Hải Đại Sư thì đưa Lục tự quyết vào Thiền ca Tụng niệm, từ đó hình thành một phái “Thiền Hát” (Thiền Thổi). Đến đời các hậu duệ của Hư Vân Đại Sư thì Lục Tự Khí Công được phát huy thành một thứ “Âm Thanh Trị Liệu” thông qua các Nhạc phổ và Ca từ đặc biệt.

Kế thừa truyền thống này, lúc trao truyền Lục Tự Quyết cho các môn sinh của “Khí Công Truyền Nhân Hơi Thở”, tôi cũng có sáng tác các các nhạc phổ dành cho các nhạc cụ Ngũ âm, như tiêu lục mạch, sáo quạt, đàn bầu, đàn tranh, đàn nhị… Đặc biệt là các phổ ký cho “Thiền Ngân”. Các ca từ dùng cho “Thiền Ngân” (Phát Ngoại âm của Lục Tự) ngoài việc đòi hỏi phải mang Âm lực của Tự Quyết tương ứng ra, nó phải làm sao giúp môn sinh lúc ngân phát Ngoại Âm không bị tán khí (Âm lực phải chấn động vào bên trong).

Lúc phát âm và kể cả ngân âm, thông thường phải sử dụng rất nhiều Phụ âm có khẩu hình phải bật môi ra ngoài mới phát được khẩu âm. Ví dụ như các từ có các Phụ âm đứng trước và sau mỗi âm tiết như phụ âm M, B, P, V…Trong đó Phụ âm “M” là phải bật môi mạnh nhất mới ra rõ âm tiết. Kế đến là phụ âm “B”, rồi kế đến phụ âm “P”…

Để giúp các Hành giả Lục tự khí công và các Thiền sinh phát được Ngoại âm theo phương pháp của “Thiền Ngân” mà không bị buộc phải bật môi, mở miệng (Tránh tán khí). Tôi có sáng tác một bản phổ có khoảng 300 từ vựng làm ca từ. Đặc điểm của bản phổ dùng làm “Thiền Ngân” này là suốt cả bản phổ không hề có một chữ cái (phụ âm) nào là “m”, “b” và “p”. Động thái này giúp môn sinh và các hành giả tập phát Nội Âm được nhanh thành tựu hơn nhờ vào kỹ năng của Thiền Ngân không có “Em”, “Bờ”, “Pờ” và “Phờ”…

2- Bản Phổ Không Có Em và Phở…hehhehe…!!!

CÁT ĐÁ TRÙNG LAI

Không hướng đến dư điện thờ Thiên Thủ

Loay hoay về ngộ cát đá trùng lai

Khi đã thả đời trôi trên dòng ảo vọng

Thì cứ chọn cung đàn để nghe ngược tiếng chuông tan

Thì cứ chọn vô ngần khỏi ngơ ngẩn tiếng chuông ngân

Khi hắt hiu tuổi xế chiều nắng héo

Thì lang thang níu kéo những ân tình

Cho nhớ nhớ vẫy suối nguồn veo vẻo

Thỉnh xưa về tô lộng lẫy nét ngây ngô

Thỉnh xưa về gõ đều đặn nhịp ơ hờ….

Không còn say dưới rẻo ngày gió gãy

Thì lả lơi hây hẫy với Giang Hồ

Cho nhớ nhớ gọi hồn yêu vời vợi

Thình xưa về ấp ủ sưởi câu thơ

Thỉnh xưa về độ lại nhịp chân chờ…

Thôi về đây dưới ánh trăng lồ lộ

Rồi buông lơi hơi thở với trường quyền

Ngày sau đó có khách vô thường đến hỏi

Chỉ ngả đường đại định cõi uyên nhiên

Chỉ ngả đường an lạc không cần in dấu vết… những độ Thiền..

Tóc tiểu đồng lung linh trên đầu như màu khói

Ngõ trúc gầy ngầy ngậy lối sương tan

Phất trần vẫy thì lụa là cũng vậy

Dòng ngây ngô giờ dặt dìu hoa sóng long lánh cánh sen cài

Không còn nghe lao xao phía ngân hồ

Cội nguồn giờ đã vắng

Cát đá ngày xưa lận đận thế giờ cũng được gần nhau

Sao vẫn thấy dưới hừng đông vẫn còn như quá nặng

Hay vẫn còn lo lắng

Lỡ sau này cát đá lại lìa nhau

Lỡ sau này cuội sỏi cũng sầu đau….

01/08/26

Thuận Nghĩa

 

SHARE