Lại nói trong tác phẩm “Tu Tập Chỉ Quán Tọa Thiền Pháp Yếu” của Trí Khải Đại Sư (Tổ sư khai sơn của Thiền phái Thiên Thai Tông, được Phật giáo Trung Hoa tôn xưng là „Đông Thổi Thích Ca“/ Phật Thích Ca của phương Đông). Nội dung tác phẩm này là nói tổng quát về Thiên Thai Chỉ Quán và then chốt của đạo và được xem là bộ điển tịch đầu tiên trên thế giới giới thiệu có hệ thống phương pháp tĩnh tọa và trí tuệ chỉ-quán, giúp người mới bắt đầu bước vào thiền định và khai mở trí tuệ, có chương thứ 9 nói về Lục Tự Quyết, thảo luận ba phương pháp: “Chỉ tâm đan điền trị bệnh”, “Lục Khí trị bệnh”, và “Thập Nhị Tức trị bệnh”

Đây đều là những pháp tu liên quan trực tiếp đến Trì Tức Niệm (quán sát hơi thở). Trí Khải Đại Sư không chỉ tiếp nhận sáu âm của Đào Hoằng Cảnh mà còn lập ca kệ phối hợp sáu âm với tạng phủ Đây là một trong những lần đầu tiên sáu âm (Lục tư quyết) được hệ thống hóa thành bài ca có thể truyền dạy qua nghệ thuật „Thiền Ngâm“: Bài ca kệ ấy như sau:

…“心配屬呵腎屬吹,

脾呼肺呬世皆知。

肝臟熱來噓字治,

三焦壅處但嘻為…“

Dịch Âm:

“Tâm phối thuộc Ha, thận thuộc Xuy,

Tỳ hô, phế Hi, thánh giai tri.

Can tạng nhiệt lai, Hư tự trị,

Tam tiêu ủng xứ, đản Hu vi.”

Dịch nghĩa:

Tim phối với âm Ha, thận thuộc âm Suy;

Tỳ dùng âm Hô, phổi dùng âm Hi, điều ấy ai cũng biết.

Khi gan tạng có nhiệt thì dùng chữ Hư để trị;

Chỗ tam tiêu bế tắc thì chỉ dùng âm Hu.

Cách đây một vài năm, tôi có dịch nghĩa bài ca kệ này của Trí Hải Thiền Sư ra chữ quốc ngữ và chiết thành một bản phổ dành cho chảo nhạc Hanpand và tiêu Lục mạch. Ca từ của bản phổ ấy như sau:

Lục Tự Ca

Tâm phát âm Ha…thận phát Suy…

Hi… ngân với phổi, Hô… ứng tỳ

Tạng can phạm nhiệt Hư… xử trí

Loạn ở tam tiêu Hu… luyện trì…

(Lưu ý: Các bản phối trên Hanpand và tiêu Lục mạch đều có lưu lại trên Facebook của tôi và YouTube).

Nhưng như đã nói „Lục Tự Khí Công“ (Lục Tự Quyết) là một môn Tĩnh Công, tác dụng trị liệu do các chấn động của Âm lực tương ứng với các tần số và nhịp sinh học của Tạng- Phủ. Vì vậy muốn phát huy được uy lực vô đối của Tự Quyết, đòi hỏi Hành giả Lục Tự phải có một nội hàm „Nội Âm“ khả dĩ.

Nhưng một số đông học viên của Lục Tự Khí Công chưa, hoặc rất khó phát được „Âm Bụng“. Chính vì vậy các bậc Đạo sư mới „phát minh“ ra loại „thiền ngân“ ngậm miệng (Một kiểu ngân nga các ca từ, kinh chú trong cuống họng, âm thanh được phát ra nhưng không được phép mở miệng hoặc máy môi).

Kiểu thực hành „Nội Âm“ này lại vướng một cái khó cho học viên là khi gặp các âm tiết có khẩu hình phát âm buộc phải bật môi, thì rất khó ngân nga khi ngậm chặt môi. Ví dụ các âm tiết có các Phụ âm khi phát buộc phải bật môi sau đây:

– Chữ „M“ trong chữ Mẹ, Em, Mà, May mắn…

– Chữ “B” trong chữ Bên bờ, Bãi biển…Bến song…

– Chữ “P” trong Phờ phạc, Phơi phới, Phương pháp…

– Chữ “V” trong Vân vân, Vò vỏ, Vàng vọt, Veo vẻo, Về…

Chính vì vậy mà khi tạo cơ hội luyện ngân Lục Tự (ngậm miệng để âm lực chấn động vào trong nội thể) cho học viên, tôi có sang tác ra một bản phổ gần 300 ca từ nhưng không hề có một phụ âm có khẩu hình bật môi như các âm tiết trên (M, B, P, V). Bản phổ này được chỉnh sửa từ một bài thơ in trong tập “Vệt Thiều Quang”. Nội dung bản phổ “Ngậm Ngân” sau nhiều lần chỉnh sửa có nội dung như sau:

CÁT ĐÁ TRÙNG LAI

Không hướng đến dư điện thờ Thiên thủ

Loay hoay hoài ngộ cát đá trùng lai

Khi đã thả đời trôi trên dòng huyễn tượng

Thì cứ chọn cung đàn để nghe ngược tiếng chuông tan

Thì cứ chọn trong ngần khỏi ngơ ngẩn tiếng ru ngân

Khi hắt hiu tuổi xế chiều nắng héo

Thì thong dong nhẹ kéo đôi cung đàn

Cho nhớ nhớ gợi suối nguồn trong trẻo

Cho xưa còn lộng lẫy nét ngây thơ

Cho bây giờ dịu ngọt chút dại khờ

Khi lắt lay với rẻo ngày gió gãy

Thì thảnh thơi lã lướt với đất trời

Cho nhơ nhớ gọi hồn yêu ngời ngợi

Cho xưa còn rạng rỡ những câu thơ

Cho sau này lồng lộng gót chân chờ

Thôi cùng nhau dưới đêm trăng lồ lộ

Ta lã lơi hơi thở dạo trường quyền

Ngày sau đó có khách giang hồ đến hỏi

Chỉ ngả đường an định cõi uyên nhiên

Chỉ ngả đường khỏi đọa lạc giữa cõi thiền…

Không còn nghe lao xao phía ngân hồ

Cội nguồn giờ đã lặng

Cát đá ngày nao lận đận thế rồi cũng được gần nhau

Sao lại thấy dưới hừng đông cứ còn như nằng nặng

Hay là còn lo lắng lắng

Lỡ sau này cát đá lại lìa nhau

Lỡ sau này cát đá cũng sầu đau…

(Còn Nữa)

(Lưu Ý: Học viên của các lớp “Lục Tự Y Án Kỳ Phương” lưu lại bản phổ này để còn dùng sau này cho các lớp nâng cao)

06/08/26

Thuận Nghĩa

 

SHARE