Home Ký sự Chuyện Đời ANH HÙNG THỜI CẬN CHIẾN (chuyện đời)

ANH HÙNG THỜI CẬN CHIẾN (chuyện đời)

720
0

Cuối tuần con Chung từ Giessen đến thăm tôi. Thấy mặt nó buồn xo, tôi hỏi, mi lại có chuyện chi mà ngó buồn rứa. Mắt nó rơm rớm, anh Đô bị kỷ luật rồi. Răng rứa?. Dạ, nghe nói anh không tuân theo chỉ thị của cấp trên, tự chỉ huy tàu mình đụng chạm với tàu Hải Giám của Trung Quốc, nên bị tước danh hiệu Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang chuyển công tác về đồn Biên Phòng ở Lao Bảo rồi. Tôi nghe nó nói, tức không chịu nổi, văng tục, con bà nó, thằng Đô đẻ ra dưới nước, chuyển hắn lên rừng công tác, khác chi chặt tay, chặt chân hắn chớ. Con Chung rầu rầu, rứa đó, rứa đó…chú nờ.

  Con Chung người cùng quê tôi, là chỗ quen biết từ xưa, nên khi nó sang làm Master bên Đức, thì chú cháu thường liên lạc với nhau. Hơn hai năm trước, tôi đọc trên báo mạng, có mẩu tin ngắn nhắc đến chiến công  của trung tá anh hùng lực lượng vũ trang Trần Quang Đô. Tôi gọi điện thoại hỏi con Chung, có phải thằng Đô nhà mình không?. Con Chung tự hào, dạ, đúng eng nớ đó, eng nớ là niềm tự hào của bộ đội Hải Quân trong việc anh dũng kiên cường bảo vệ biển đảo của Tổ Quốc đó chú nờ. Tôi hả dạ, sướng hè, sướng hè…, thằng ni khá hè, khá hè…

  Miệng thì nói sướng hè, sướng hè…nhưng trong thâm tâm tôi có chút hổ thẹn. Thằng Đô con nhà nghèo, ít học vậy mà có chiến công hiển hách, biết cống hiến cả đời trai cho sự nghiệp bảo vệ biên cương, biển trời của Tổ Quốc. Những thằng có học như tụi tôi, chỉ được cái ăn tục nói phét, chuyên đánh giặc mồm. Đã mang thân tha hương, làm cu ly cho ngoại bang, chẳng có công sức gì trong việc bảo vệ non sông, lại còn dở thói la cà trên mạng, tha hồ chửi đổng, khoa môi múa mép làm kẻ sĩ, ra vẻ như là những nhà ái quốc chí sĩ vĩ đại lắm không bằng.

 Tôi lại cứ hỏi đi hỏi lại con Chung, họ chuyển anh mi lên Lao Bảo à, là chuyển anh mi lên rừng, lên đó thì anh mi mần được cái chi chớ, tước danh hiệu anh hùng thì cũng được, ẻ quẹt vô ba thứ đó, nhưng răng không để cho hắn ở biển chớ, kỷ luật hắn thì hạ cấp bậc hắn được rồi, mắc mớ chi đày hắn lên rừng chớ, con bà chúng chớ, ngu ngu…ngu..ngu…hỏi một thôi một hồi, chửi đổng một thôi một hồi, rồi tôi rưng rưng như ngấn lệ, thở dài, con bà nó, lịch sử lại lặp lại à…

 Con Chung tò mò, lịch sử lặp lại là răng hả chú. Cảm thấy con Chung muốn biết điều gì, tôi đánh trống lãng khỏa lấp, thì tau nói rứa thôi, lặp lại là lặp lại chớ răng. Nhưng mà lặp lại cấy chi chơ? Hình như chú có chuyện chi giấu tụi con. Tôi quạu, có chuyện cứt chi mà dấu, tụi mi con nít, lo chuyện học hành đi, nghĩ chi ba cái chuyện tầm phào cho nhọc xác. Con Chung thấy tôi quạu, im re. Còn tôi thì thở dài thườn thượt. Cuốn phim cuộc đời 35 năm trước, từ từ tái hiện lại trước mắt tôi…

… Năm 1977, cuộc chiến huynh đệ tương tàn đã kết thúc hai năm. Nhưng trên quê tôi, hình như vẫn chưa phai mùi súng đạn và chết chóc. Đồng ruộng làng quê xơ xác điêu tàn, thanh niên trai tráng phần chết trên chiến trường, phần biệt xứ đi nơi khác làm ăn hết. Bão lụt, hạn hán triền miên. Dư âm của cuộc chiến thương đau chưa phai nhạt, thì ám ảnh của sự đói rét lại bắt đầu phủ trùm xuống làng quê nghèo của chúng tôi.

  Nhà tôi neo người, Ba tôi đau yếu triền miên. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy của thời cuộc, tôi đành bỏ học, đi làm xã viên hợp tác xã thủ công nghiệp, đúc gạch và nấu vôi, phụ giúp gia đình trong cơn bỉ cực.

 Thuở ấu thơ tôi là đứa trẻ ngang tàng, nghịch ngợm, nhưng lại hiếu học, hiếu đọc và rất tự trọng. Buộc phải bỏ học vì hoàn cảnh, tôi đau đớn lắm, nên rút mình vào trong cái vỏ ốc mặc cảm. Tôi không quan hệ với bạn bè cùng trang lứa nữa, mà sống thu lại với thế giới của riêng mình.

 Ban ngày úp mặt xuống dòng sông Kiến Giang, lặn cát, lặn sạn về cho hợp tác xã đúc gạch táp lô. Tối về tôi lại mò mẫm ra đồng bắt cua, nơm cá, đốt lửa giữa đồng nướng ăn chóng đói. Hầu như suốt mùa hè chẳng có đêm nào tôi ngủ ở nhà.

 Gần nhà tôi, phía ngoài đồng, giữa ranh giới hai làng Hoàng Giang và Phan Xá, có một cồn đất cao. Nơi đó trong chiến tranh, có một ụ pháo 12 ly 7, của dân quân, bấy giờ đã thành một cồn hoang. Ban đêm tôi thường ra đó, bẻ cành phi lao lót ổ nằm ngủ, vừa mát mẻ, vừa yên tĩnh, tôi tha hồ chìm đắm vào thế giới mộng mơ của tuổi 17  giữa cánh đồng rì rào biển lúa.

  Một đêm, tôi đang lúi húi, móc buồng chuối lùn mà tôi đầo dú với lá sầu đâu trong hóc đất nơi cồn hoang ấy để đánh chén bữa khuya, thì nghe tiếng hô từ dưới hói (lạch nước) vang lên, ai, đứng yên giơ tay lên, nhúc nhích là bắn. Mặc dầu tiếng hô to, bất chợt, nhưng chẳng làm tôi giật mình. Vì ban đêm, trên cánh đồng này, trên cồn hoang này, tôi là chúa tể. Là chúa tể thì còn sợ ai nữa chứ. Một phần tôi cũng biết tiếng hô ấy là của ai, nên bình thản, hê hê hê…có súng ẻ mô mà bắn. Tiếng nói từ dưới hói lại vọng lên, con cái nhà ai, giờ ni mần chi ngoài ni, đứng đó không được chạy nghe chưa. Tôi lại hê hê hê…, tui không đứng thì eng mần chi tui, eng bay theo à. Tiếng ừng ực uất nghẹn từ dưới hói lại vang lên, mi đứng đó, coi tau nì…

…Xoẹt, xoẹt…tiếng thuyền nan rẽ cỏ ào ào vút tới. Ùm…tiếng người nhảy vội xuống nước. Xoẹt xoẹt..tiếng kéo lê vội vàng trên cỏ. Cuối cùng rồi anh cũng trườn đến được gò đất tôi đang ngồi. Anh quì trên đôi chân cụt của mình, tay dơ cao cái chầm chỉa vào tôi, ai, đứng yên giơ tay lên, không tôi bắn…Tôi vẫn thản nhiên nhồm nhoàm nhai chuối, hì hì…báo cáo đồng chí Đại úy, đồng chí có mô súng mà bắn hì hì….mời đồng chí Lấu ngồi xuống, mần mất trấy chuối đi hè. Anh vẫn còn tức, lầu bàu, mi là con cái nhà ai mà biết tau. Đồng chí không biết tui, chớ cả cái huyện ni không ai là không biết đồng chí Đại úy, đại đội trưởng đặc công nước Trương Quang Lấu cả. Anh, lết lại gần tôi và ngồi xuống, cười, hì hì, là trung úy, đại đội phó thôi. Anh nói. Và không cần biết tôi con cái nhà ai, giờ này ra đồng ngồi làm chi, anh bắt đầu thao thao kể về những trận đánh đầy huyền thoại của anh trong trung đoàn 27 Triệu Hải. Không biết những trận đánh ấy thực hư ra sao, nhưng chuyện anh kể về Đại đội đặc công nước của anh ở Cửa Việt, nghe cực kỳ hấp dẫn và thú vị, nên tôi cứ há hốc mồm ra nghe anh kể, thỉnh thoảng lại thít thà.. rứa à, rứa à….

 Chuyện chiến đấu của anh trong Trung đoàn 27 Triệu Hải với chiến dịch 81 ngày đêm Thành Cổ Quảng Trị là có thật. Chuyện anh xém được đề nghị truy phong anh hùng lực lượng vũ trang là có thật, ai cũng biết, ít nhất là theo lời những người khác kể lại. Nhưng chuyện, vì sao anh bị cụt hai chân, vì sao anh trở thành con ma đồng, vất vưỡng kiếm sống, mà không có một chế độ chính sách đãi ngộ gì thì ít ai biết. Ai hỏi, thì mặt anh dài thườn thượt, bảo đang làm hồ sơ hưởng chế độ thương binh.

 Mãi sau này, khi quen thân anh, qua những câu chuyện của anh, chắp vá lại, tôi mới biết rõ ràng là vì sao anh ra nông nổi này

 Quảng Trị giải phóng, nhưng chiến tranh vẫn chưa kết thúc. Anh và đại đội của anh, nhận lệnh ở lại bảo vệ Cửa Việt. Thời đó, không những dân đói, mà bộ đội cũng thiếu ăn. Anh thương đồng đội, bày trò chế mìn tự tạo, ném xuống sông bắt cá về cải thiện. Một lần anh cùng một đồng đội đi ném mìn, bị cướp dây cháy chậm, mình nổ trên tay, bạn anh chết tan xác, anh chỉ bị thương, sau đó bị kỷ luật, thuyên chuyển về huyện đội Hướng Hóa.

 Về Hướng Hóa, anh lại bỏ gác, lò mò vác súng đi săn thú cải thiện cho anh em. Lớ ngớ dẫm phải mìn sót lại, bị cụt cả hai chân. Một chân cụt ngang đầu gối, một chân cụt gần đến bẹn. Anh bị tước quân tịch, đuổi về địa phương, nên không được hưởng một chế độ gì cả.

 Anh người làng Hoàng Giang,  nhưng nhờ người mai mối, lấy được chị Diếc, có tật sứt môi, hở hàm ếch ở làng Qui Hậu bên kia sông. Từ ngày lấy vợ, anh chuyển sang ở bên nhà vợ. Vợ anh làm nghề chằm nón, thu nhập thấp. Anh sắm một chiếc thuyền nan, một bộ câu cặm và từ đó gắn bó với cánh đồng Xuân Thủy về đêm.

 Anh di chuyển bằng hai tay chầm với chiếc thuyền nan nhỏ bé của mình. Vậy mà chẳng có nơi nào trên những cánh đồng bao la của Hai Huyện là anh không biết tới. Khi lên bộ, thì anh bó cái chân cụt bằng một cái mo cau. Hai tay anh chống hai bên, phi cái chân cụt bó mo tới trước, rồi quăng mình, lết người theo. Anh di chuyển khó khăn, nhưng khi cần nhanh, cũng nhanh ra phết.

 Trên cạn anh là vậy, nhưng khi xuống nước, dù cụt hai chân, nhưng anh rất xứng danh với hai chữ Thủy Thần. Về lặn lội, tôi cũng liệt vào quái thủ. Có thể lặn chay, tay không bắt cá bống dưới đáy sông được, nhưng so với anh là cái đinh. Nhìn anh, bơi lặn, lườn trượt, toài bò đi vun vút giữa bùn sình, lau sậy mà mê. Không thể nói anh là rái cá được, mà phải nói là Thủy Thần thì mới đúng.

 Rồi từ cái đêm hôm đó, tôi và anh trở thành đôi bạn thân. Dạo tôi quen anh, là vợ anh mới đẻ thằng Đô. Nhà anh túng quẩn lắm. Tôi cũng chẳng khá gì hơn, nên không giúp gì được anh. Chỉ còn cách là hàng đêm, theo giúp anh đi thăm câu. Hàng trăm cái cần câu cặm, cắm khắp các bờ ruộng, bờ kênh. Phải năng đi thăm câu, mới có cơ hội bắt được nhiều cá. Bởi nếu không thăm câu thường, rắn đẻn, rắn nước… chúng tợp hết trước mồi, nên cá chẳng có mà mắc câu.

 Anh thân tôi, mến tôi là vì tôi biết lắng nghe những trận đánh của anh và đồng đội trên mặt trận Quảng Trị mà anh kể đi kể lại hàng trăm lần. Ngược lại anh cũng biết ngồi gật gù nghe tôi đọc thơ. Hồi đó tôi cũng đã biết tý tỏm làm thơ rồi. Nhưng chẳng bao giờ hó hé cho ai biết, sợ chúng cười. Chỉ với anh là tôi mới dám mạnh dạn đọc cho anh nghe. Có lần ngồi trên cồn hoang, dưới anh trăng man mát tỏa xuống đồng lúa rì rào, tôi đọc thơ cho anh nghe, rồi hỏi, hay không?, hay không?…anh gật gù, hay chớ, hay chớ…mi mần mà không hay, thì ai mần hay nữa. Tôi hỏi, hay răng?, hay răng?…Anh cười hì hì…cần ẻ chi biết răng là hay, mần được thơ là hay rồi… Có lẽ anh là đọc giả đầu tiên và cũng là đọc giả cuối cùng hiểu được thơ tôi: „Cần ẻ chi biết răng là hay, mần được là hay rồi“ (…hehehehe…)

Thân vậy, nhưng nhiều khi tôi và anh cũng có giận nhau. Tôi khá kiên nhẫn để ngồi nghe anh kể chuyện chiến đấu của anh. Nhưng cực ghét cái ý tưởng, là anh sẽ nhờ bạn bè đồng đội cũ chứng nhận chiến công của anh để xin lại cái chế độ thương binh. Tôi nói, anh đừng có mơ tưởng chuyện hão huyền, trong chiến tranh dưới mũi tên hòn đạn, cạnh kề bên cái chết, con người mới tỏ ra là vì nhau thôi, chứ thời bình, mạnh thằng nào, thằng nớ sống, ai mà quan tâm chứng nhận cho anh được làm thương binh. Những lúc đó anh đỏ mặt tía tai, sừng sộ quát tôi, mi chưa từng ở trong quân ngũ, thì mi đừng xúc phạm đến tình cảm của người chiến sĩ. Tôi nói, chiến sĩ cái cục cứt. Anh giận tôi.

 Có lần đang đọc thơ cho anh nghe, anh nói, số mi rồi khổ thôi út ạ, lãng mạn kiểu nớ, lấy chi mà đút vô miệng út ơi. Tôi nói, thơ là thơ, thơ là dành cho tâm hồn, chứ thơ đâu phải dành cho cái dạ dày. Anh nói, tâm hồn cái lỗ khu, đói rã họng ra thì có tâm hồn mần ẻ chi. Tôi giận anh.

 Tôi và anh như hai con ma đồng. Ban ngày thì chẳng thấy mặt đâu. Cứ về khuya thì lại vật vờ trên cồn hoang, cười nói, đùa giỡn với nhau suốt cả đêm.

 Tôi đi lặn cát, lặn sỏi dưới sông. Nhiều người quen biết, nhờ lặn dùm đò cát, đò sạn, rồi biếu lại nắm xôi, cút rượu. Xôi thì tôi ăn, còn rượu thì tôi không uống được, tôi để dành, đêm mang ra cho anh. Bình thường, thì anh vui vẻ cười nói, bất cần đời, coi trời bằng vung. Nhưng khi rượu vào thì anh lại ngồi thở dài và khóc. Những khi ấy, anh hay gọi tên đồng đội và khóc hu hu như trẻ con. Anh hay nói, tau có què có cụt, thì vẫn còn có cái mạng, dù đói rách, tàn phế, vẫn còn có vợ có con, còn tụi bay, Lê ơi, Hiếu ơi, Thành ơi…tụi bay, giờ nằm dưới gò cát Triệu Lăng, dưới đáy sông Thạch Hãn…, có lạnh lắm không, có ai thắp cho tụi bay nắm nhang không…hu..hu…

 Lần khác thì anh đi ăn giỗ, để dành nắm xôi và vài miếng thịt phay mang ra cho tôi. Tôi bày xôi thịt ra, bảo anh cùng ăn. Anh vỗ bụng bành bạch bảo, mi ăn đi, tau mần một bụng căng rồi nì. Tôi ăn, anh ngồi nhìn, nuốt nước miếng ừng ực. Tôi giả vờ no, không ăn nữa, nhường lại cho anh. Lúc đó anh mới ngấu nghiến ăn, như chưa từng biết xôi, biết thịt phay là gì. Những lúc đó, cổ tôi nghèn nghẹn, mắt tôi cay cay… Tôi vỗ vỗ vai anh, có những hạt xôi, những miếng thịt, mà cả một đời người cũng không tận hưởng hết được hương vị ngầy ngậy của nó, là những miếng xôi, miếng thịt này đây. Anh gật gù, mi lại mần thơ à….

 Rồi một ngày đầu thu năm đó, trên cồn hoang giữa cánh đồng, nơi có ụ pháo thời chiến tranh để lại. Chỉ còn lại tôi với nỗi đau xé ruột. Anh Lấu chết rồi. Thủy Thần đã chết đuối trên dòng sông vào mùa mưa lũ.

 Dòng Kiến Giang vốn hiền hòa êm dịu. Nhưng những khi lũ tràn về thì lại cuồn cuộn rất hung dữ. Dòng nước bạc từ dãy Trường Sơn ào đổ xuống, mang theo những mảng cành cây khô, rều, rác..lao vùn vụt về xuôi. Lúc đó vợ anh đang con có bầu con Chưng. Anh sợ vợ nằm nơi vào mùa đông giá buốt, không có củi sưởi, nên lao thuyền nan ra giữa dòng nước bạc vớt cành khô. Một khúc gỗ lớn lao vào thuyền anh. Thuyền lật và anh cũng chìm theo dòng nước cuộn xoáy. Người ta thấy anh chới với giữa dòng bão lũ, nhưng không thể nào cứu anh kịp.

 Khi nước rút, cũng chẳng thể nào tìm được xác anh. Có lẽ dòng nước đã đưa anh về với biển Mẹ bao la. Chị Diếc, mang bụng bầu, dắt thằng Đô mới chập chững biết đi, ra bờ sông ngồi khóc mấy ngày mấy đêm. Tôi đứng bên này sông, nhìn sang lòng quặn thắt từng khúc ruột. Đêm đó tôi ra cồn hoang, đắp một mô đất, cắm mấy que nhang, rồi đứng nghiêm, dơ tay chào theo điều lệnh quân đội, báo cáo đồng chí thương binh, đại úy, đại đội trưởng đại đội ba, tiểu đoàn bốn, trung đoàn anh cả đỏ hai mươi bảy Triệu Hải, anh hùng lực lượng vũ trang quân đội nhân dân Việt Nam, tôi có mặt, chúc đồng chí Thương Binh anh hùng về với đất mẹ và an giấc ngàn thu.

 Trong chiến tranh, anh, dũng cảm kiên cường vì đồng đội. Lúc thời bình, anh vì đồng đội mà bị tàn phế. Lúc trở thành dặt dẹo như con ma đồng, anh cũng chỉ nghĩ về đồng đội. Nhưng lúc anh về với đất, về với nước, chỉ có tôi, một con ma đồng khác gọi anh là đồng chí…..

 Rồi cuối mùa thu năm đó, tôi cũng biệt xứ ra đi, biền biệt cho đến bây giờ, khi gặp được con Chung trên nước Đức. Tôi mới biết thêm về tình hình thằng Đô và chị Diếc. Chị Diếc vẫn còn sống, vẫn làm nghề chằm nón ở làng Qui Hậu. Sau ngày anh Lấu chết, chị đẻ con Chưng, bây giờ đổi thành tên Chung. Thằng Đô, lớn lên học hết lớp chín thì bỏ học, về làm đồng giúp mẹ nuôi con Chung ăn học. Sau đó đi nghĩa vụ quân sự, vào binh chủng Hải Quân.

 Hai năm trước thằng Đô được phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang, nhờ thành tích bám đảo, bảo vệ biển trời của Tổ Quốc. Vừa rồi, lại nghe con Chung nói, thằng Đô bị kỷ luật, tước mất danh hiệu anh hùng, vì không tuân lệnh cấp trên, chỉ huy tàu mình đụng độ với tàu Trung Quốc. Và bị chuyển lên làm lính biên phòng trên Lao Bảo.

Đúng vậy, tôi lo lắng cho thằng Đô, vì tôi sợ lịch sử lại lặp lại sự tích anh hùng thời cận chiến như cha nó.

15.11.12

TN

Comments

comments

SHARE