(Lời bạt:
Trong chương trình “Huân tập Mùa thu” vào ngày 30/08/26 tại Tp. HCM có chương trình buổi sáng do nhóm “LTTC” tổ chức với nội dung khá trừu tượng. Để các bạn học viên hiểu thêm về chương trình “TRỰC CHỈ NÊ HOÀN” là cái gì. Tôi xin đại diệu cho BTC của chương trình, có thực hiện loạt bài viết liên quan đến chủ đề này để mọi người tìm hiểu thêm…- TN)
B/ TỪ NHỤC HOÀN ĐẾN NOÃN HOÀN
1- Ba tầng kết tụ Tinh – Khí – Thần trong thân Nội đan
a/ Chữ “Hoàn” và huyền nghĩa của sự kết tụ
Nếu muốn hiểu Nhục hoàn – Noãn hoàn – Nê hoàn như một chỉnh thể, trước hết phải hiểu chữ “Hoàn. “Hoàn” không nên chỉ được hiểu là một vật thể hình cầu. Trong ngôn ngữ biểu tượng của Nội đan, Hoàn còn gợi ý một trạng thái quy tụ, viên dung và thành hình (Ví dụ: Xá lợi). Là cái vốn tản mạn trở về một mối, cái vốn vận động hỗn loạn trở thành có trung tâm Bởi vậy, có thể lập một mô hình diễn giải:
⁃ Nhục hoàn là Khí kết nơi Nhục.
⁃ Noãn hoàn là Tinh được ôm giữ để sinh.
⁃ Nê hoàn là Thần được quy tụ để minh.
Ba “Hoàn” vì thế không nhất thiết là ba vật thể nằm ở ba vị trí giải phẫu. Chúng có thể được đọc như ba cấp độ của cùng một tiến trình luyện hóa. Thân có chỗ tụ thì Khí mới quy. Khí có chỗ quy thì Tinh mới giữ. Tinh được giữ thì Thần mới có căn. Thần có căn thì mới có thể hoàn hư.
2- NHỤC HOÀN: KHÍ KẾT TRONG NHỤC.
Lại nói, nhục hoàn có thể được lấy làm điểm trung gian để giải thích hai Hoàn còn lại. “Nhục” là thịt, nhưng trong phép học Nội đan, không nên giới hạn Nhục ở khối cơ. Nhục là „thân” sống đang chịu sức căng, áp lực, nhịp thở và trọng lực. Nếu đặt Nhục hoàn trong vùng Trung Đan Điền, ta gặp một cấu trúc rất đáng chú ý về mặt cơ thể học: cơ hoành ở trên và hệ thắt lưng chậu ở dưới và sau tạo nên một vùng chuyển tiếp giữa lồng ngực và ổ bụng.
Cơ hoành không chỉ khiến phổi hít vào và thở ra. Sự hạ xuống và nâng lên của nó còn làm biến đổi áp lực trong lồng ngực và ổ bụng. Vì thế, hơi thở sâu tạo ra một chuyển động ba chiều xuyên qua thân mình. Trong ngôn ngữ Nội đan, ta có thể gọi trạng thái ấy là: “Khí nhập Nhục – Nhục dung Khí”. Nhục hoàn vì vậy không nhất thiết là một “viên năng lượng”. Nó có thể được hiểu tinh tế hơn là cảm giác về một trung tâm sống được hình thành khi hô hấp, trương lực cơ và nội cảm giác bắt đầu hội tụ. Khi hơi thở còn ở ngực, Khí dễ phù. Khi cố ép bụng, Khí dễ trệ. Nhưng khi cơ hoành vận động tự nhiên, bụng–hông–lưng cùng tiếp nhận áp lực, thân giữa dần trở nên “đầy mà không cứng”. Đó chính là ý nghĩa quan trọng của Nhục hoàn: Không phải dùng ý niệm nặn ra một viên Khí, mà khiến toàn bộ Nhục trở thành chiếc bình có khả năng chứa Khí. Nhục hoàn do đó là Hoàn của Trung. Nó nối trên với dưới, nối hô hấp với thân thể, và làm bản lề cho Noãn hoàn bên dưới cùng Nê hoàn bên trên.
3- NOÃN HOÀN : TINH ĐƯỢC ÔM GIỮ TRONG “NOÃN”.
Nếu Nhục hoàn mang nghĩa kết, thì Noãn hoàn mang nghĩa dưỡng. “Noãn” là trứng. Trứng là một biểu tượng đặc biệt, bên ngoài khép kín nhưng bên trong chứa khả năng sinh thành. Vì vậy, chữ Noãn thích hợp để biểu đạt trạng thái Tinh được thu nhiếp, bao bọc và nuôi dưỡng. Nếu liên hệ Noãn hoàn với Hạ Đan Điền, vùng bụng dưới và hệ cơ đáy chậu, ta có thể nhìn nó qua một hình ảnh cơ thể học rất đẹp. Ở phía trên là cơ hoành. Ở phía dưới là sàn chậu. Xung quanh là thành bụng. Phía sau là cột sống cùng hệ cơ sâu. Chúng tạo nên một khoang áp lực động, gần giống một bình chứa sống.
Có một cấu trúc mà cơ thể học hiện đại gọi là “cơ Kim tự tháp”, điểm quan trọng không nhất thiết nằm ở việc xác định một cơ giải phẫu duy nhất mang tên ấy, mà ở hình tượng đáy – trụ – đỉnh có ý nghĩa lực từ nền thân được thu về trung tâm thay vì thoát tán ra ngoài. Nó cũng là „hóa thân“ của Noãn
a- Vì sao gọi là Noãn?
Noãn không phải “cứng”. Vì thế, “Noãn hoàn” không nên được tạo bằng cách co siết đáy chậu cực mạnh hoặc nín thở ép bụng. Nếu làm như vậy, ta có “bế” nhưng thiếu “dưỡng”. Vì vậy tình thần của Noãn hoàn là: ngoài giữ, trong nhu, dưới ổn, giữa đầy, ý quy, khí trầm. Đó là trạng thái Hạ Đan Điền được cảm nhận không còn như một “điểm” tưởng tượng, mà như một trường chứa.
b- Noãn hoàn và Tinh
Theo ngôn ngữ Nội đan, luyện Tinh hóa Khí không nên bị giản lược thành việc đưa một chất vật lý nào đó chạy lên cột sống. “Tinh” rộng hơn tinh dịch hay chất sinh dục. Nó biểu tượng cho khả năng sinh thành, dự trữ và căn lực của sự sống. Vì thế Noãn hoàn là hình tượng thích hợp cho giai đoạn: “Tinh không tán mà quy”. Qui mà không bế. Bế mà vẫn sinh”… (sinh mà chưa phát) Đây chính là “Thai” trước khi thành Hình. Tóm lại Noãn là khả năng sinh Đan.
b- TỪ NHỤC HOÀN XUỐNG NOÃN HOÀN: TRUNG PHẢI MỞ THÌ HẠ MỚI TỤ
Đây là điểm rất quan trọng. Nếu Trung tiêu bị căng cứng, cơ hoành không hạ tự nhiên, người luyện thường cố “đưa khí xuống Đan Điền”. Nhưng càng đưa, bụng càng gồng. Càng gồng, đáy chậu càng siết. Càng siết, cảm giác “khí mạnh” càng dễ xuất hiện nhưng đó chưa chắc là Đan. Bởi vậy, theo mô hình ba Hoàn, Nhục hoàn phải thành trước khi Noãn hoàn thực sự ổn định. Nhục hoàn làm mềm trung tâm. Hơi thở từ ngực đi vào thân. Cơ hoành hạ. Áp lực lan ra bụng–hông–lưng. Hạ Đan Điền nhờ đó không cần bị “ấn” xuống mà tự nhiên trở thành nơi tiếp nhận. Kinh thư có viết thành một câu quyết như sau: “Trung khai thì Hạ nạp. Hạ nạp thì Tinh quy. Tinh quy lâu ngày, Noãn tượng tự thành”
(Còn nữa)
Schwazwald 18/08/26
LY-KCS Lê Thuận Nghĩa sưu tầm và biên soạn























